Trường hợp nào sẽ ghi tên cả gia đình vào sổ đỏ chung? năm 2020

Bộ TN&MT khẳng định chỉ ghi vào sổ đỏ tên các thành viên trong gia đình đối với tài sản là của chung nhiều người trong gia đình…

Trước đó, Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư số 33 quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai. Từ ngày 5/12, Thông tư số 33 bắt đầu có hiệu lực.

Thông tư 33 hướng dẫn việc thể hiện thông tin về người sử dụng đất khi cấp sổ đỏ, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình sử dụng đất.

Một đối tượng được bổ sung vào Thông tư 33 là “những thành viên còn lại trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất”. Nội dung này tạo nhiều ý kiến trái chiều vì dư luận cho rằng điều này sẽ gây khó khăn khi mua bán, chuyển nhượng, các thủ tục hành chính sẽ càng thêm rắc rối.

Tuy nhiên, theo Bộ TN&MT, quy định này sẽ không gây khó khăn hay tạo ra rào cản nào mà vẫn bảo đảm pháp lý được chặt chẽ, cụ thể hơn về mặt chủ thể có quyền sử dụng đất, đồng thời, minh bạch về tài sản, giảm thiểu rủi ro cho người sử dụng đất, bảo đảm quyền và lợi ích của các thành viên chung quyền sử dụng đất.



ghi tên cả gia đình trong sổ đỏ
Việc ghi tên các thành viên trong gia đình vào sổ đỏ chung

chỉ áp dụng đối với tài sản là của chung nhiều người trong gia đình

Bộ TN&MT khẳng định: “Việc ghi tên các thành viên trong gia đình vào sổ đỏ chung chỉ áp dụng đối với tài sản là của chung nhiều người trong gia đình. Trường hợp là tài sản chung của vợ và chồng thì ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người theo quy định tại Khoản 4 Điều 98 của Luật đất đai. Trường hợp cấp giấy chứng đối với đất là tài sản của cá nhân thì phải ghi họ, tên của cá nhân đó”.

Cũng theo Bộ này, quy định trên phù hợp với Khoản 2 Điều 98 Luật đất đai: “Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện”.

Quy định này giúp khắc phục những vấn đề còn tồn tại như tình trạng tranh chấp, mâu thuẫn về quyền sử dụng đất giữa các thành viên khi thực hiện những giao dịch về quyền sử dụng đất. Đây vốn là những tồn tại khi thi hành Luật Đất đai bởi khi xác lập quyền sử dụng đất của hộ gia đình chưa xác định rõ các thành viên có chung quyền sử dụng đất nên không đầy đủ cơ sở pháp lý để xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, cũng như giải quyết các quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến đất đai của hộ gia đình…

“Quy định nêu trên của Thông tư sẽ bảo đảm chặt chẽ về mặt pháp lý, cụ thể hơn về mặt chủ thể có quyền sử dụng đất. Điều này không tạo ra các khó khăn hay rào cản mà còn giảm những rủi ro cho người sử dụng đất, minh bạch về tài sản, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên có chung quyền sử dụng đất trong hộ gia đình”, Bộ TN&MT nhận định.

Không chỉ đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật về dân sự, quy định trên trong Thông tư cũng không khiến thủ tục hành chính thêm rườm rà như một số ý kiến.

Khoản 2 Điều 212 Bộ Luật dân sự quy định: “Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác”.